Thứ hai, 23/09/2019

Nghi can là gì? Những vấn đề liên quan tới nghi can

Trong quá trình học Luật cũng như trong thực tế cuộc sống chắc hẳn bạn đã từng nghe đến cụm từ “nghi can”. Vậy nghi can là gì? Chúng ta cần hiểu đúng về thuật ngữ này để tránh đánh giá, nhận định sai về một sự việc, con người.

1. Khái niệm: Nghi can là gì

“Nghi can” là thuật ngữ để chỉ người hoặc hung thủ đã thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên người nghi can ở đây mới chỉ xác định ở dạng nghi vấn chứ chưa có đầy đủ cơ sở để kết luận hay khẳng định chính xác đó là hung thủ.

Chẳng hạn, khi có một vụ giết người hàng loạt xảy ra thì trong quá trình điều tra vụ án sẽ có nhiều đối tượng khả nghi bị đặt vào vòng nghi vấn của công an, hoặc bị người khác tố giác là người thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến vụ án thì đó chính là nghi can.

Sau khi điều tra và thẩm vấn về mối liên hệ, liên quan của nghi can đến vụ việc, nếu có căn cứ rõ ràng thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với nghi can. Đến lúc này thì nghi can đã bị xác định là bị can. Khi ấy người đó sẽ là người đang bị điều tra về một tội phạm theo quy định tại Điều 60 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015.

Việc xác định một người có phạm tội hay không phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, Toà án sẽ quyết định thông qua quy trình xét xử theo trình tự tố tụng. Không một tổ chức hay cá nhân nào có quyền nói người khác có tội khi chưa có một Bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án.

nghi can là gì

Chính vì vậy, khi muốn đánh giá nhìn nhận vấn đề thì chúng ta cần tỉnh táo, không nên vội vã kết luận khi chưa có bằng chứng cụ thể. Nếu nói một người đã có hành vi phạm tội giết người thì người đó mới chỉ là nghi can chứ không phải bị can, bị cáo

Xem thêm : Top những việc làm thêm buổi tối không thể bỏ qua

2. Sự khác nhau giữa bị cáo, bị can và nghi can là gì?

Sau khi tìm hiểu định nghĩa nghi can là gì trong Bộ luật hình sự, chúng ta cần phân biệt nghi can, bị can và bị cáo.

Như đã đề cập ở phần trên, không ai bị coi là có tội và phải chịu các hình thức xử phạt khi chưa chính thức bị Toà án kết tội theo quy định của pháp luật Thế nhưng, người dân hiện nay thường có xu hướng ít quan tâm đến vấn đề này. Khi một vụ án được điều tra, một đối tượng bị phía công an mời lên thẩm vấn, tạm giam, tạm giữ thì họ sẽ cho rằng những người này chính là hung thủ thực sự, là người thực hiện hành vi phạm tối và có ý nghĩ xấu về những người này.

Xét xử oan sai không phải là điều chưa từng xảy ra vì rủi ro nghề nghiệp. Hậu quả cho người bị oan là không nhỏ. Danh dự, nhân phẩm của người đó cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Ở góc độ ngữ nghĩa, “nghi can” là người bị nghi là có liên quan đến vụ án nhưng chưa có dấu hiệu phạm tội rõ ràng và không có lệnh bắt. Còn “nghi phạm” được hiểu là người bị nghi là tội phạm và đã có dấu hiệu phạm tội, chỉ chưa đủ chứng cứ chứng minh và đã bị lệnh bắt. Ví dụ như: A và B cùng bị cơ quan điều tra nghi dính dáng đến một vụ án trộm cắp và được mời lên để làm rõ vụ việc. Khi đó, A và B mới chỉ được xem là nghi can của vụ án. Sau khi làm việc và điều tra kỹ lưỡng thì cơ quan điều tra phát hiện B có dấu hiệu, hành vi phạm tội nên đã quyết định bắt giữ khẩn cấp với đối tượng B => B trở thành nghi phạm chứ không còn là nghi can nữa.

Như vậy, nghi can, nghi phạm chỉ bị cơ quan nghi vấn liên quan đến vụ án nhưng không thể khẳng định chắc chắn họ là tội phạm hay hung thủ. Việc sử dụng từ hung thủ hay tội phạm đối với nghi can và nghi phạm không chỉ là việc dùng sai thuật ngữ mà còn là hành vi gián tiếp buộc tội họ. Do đó, việc cẩn thận khi sử dụng các thuật ngữ pháp lý này là rất cần thiết vì nếu không thì bạn sẽ hiểu sai tính chất và nội dung vụ án.

Khái niệm “bị can”, “bị cáo” là để chỉ những người có dấu hiệu tội phạm trong các quá trình khác nhau của vụ án. Bị can là người đã bị khởi tố hình sự, bị cáo là người đã bị đưa ra xét xử. Điều ấy có nghĩa là người bị bắt giữ, bị tình nghi phạm tội sẽ là bị can trong thời gian điều tra. Nhưng khi hoàn tất quá trình xét xử và có cáo trạng của Viện Kiểm sát và Toà Án thì bị can sẽ chuyển thành bị cáo.

phân biệt nghi can nghi phạm bị cáo bị can

Về quyền, bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì; được trình bày lời khai trong khi đó bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định áp dụng thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ; tham gia phiên toà; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định; đưa ra các tài liệu, đồ vật yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; khiếu nại hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền; trình bày ý kiến tranh luận tại phiên toà; nói lời sau cùng trước khi nghị án; kháng cáo bản án; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng, người có thẩm quyền tố tụng.

Nguyên tắc “Suy đoán vô tội”

Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” là gì? Nguyên tắc “Suy đoán vô tội là một nguyên tắc được ứng dụng rộng rãi trong hình sự, nội dung cốt lõi của nguyên tắc là là mọi nghi can sẽ đều là người vô tội cho đến khi chứng minh được họ là người có tội. Nó được áp dụng hầu hết trong các phiên cáo buộc hình sự. Các bằng chứng cáo buộc mà viện kiểm soát hoặc công tố đưa ra phải đủ khả năng thuyết phục hội đồng xét xử về tính chân thật.

Trong nguyên tắc “Suy đoán vô tội” có khá nhiều quan điểm khác nhau từ các nhà luật học trên thế giới. Tuy nhiên, tựu trung lại thì nguyên tắc này phản án 3 nội dung cơ bản:

- Người bị tình nghi, bị can, bị cáo được coi là không có tội cho đến khi bản án có hiệu lực

- Bên buộc tội có nghĩa vụ chứng minh một người có tội. Người bị tình nghi hay bị can bị cáo có quyền chứng minh mình vô tội.

- Nghi can, nghi phạm, bị can, bị cáo được giải thích những nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ theo hướng có lợi nhất

Xem thêm : Điện dân dụng là gì? Tất tần tật kiến thức về điện dân dụng

3. Quyền và nghĩa vụ của nghi can

Quyền và nghĩa vụ của nghi can là gì? Khi đang trong giai đoạn tiền tố tụng, cơ quan điều tra cũng tiến hành xác minh sự việc không khác gì khi đã khởi tố rồi. Giai đoạn này, họ sẽ thực hiện các hoạt động như lấy lời khai, yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ giám định để đối chất

Hiện nay, Bộ luật hình sự mới nhất đã quy định người bị nghi vấn phạm tội sẽ có quyền được mời luật sư nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi trước khởi tố. Khi nghi can bị triệu tập đến làm việc với cơ quan điều tra thì được phép mời luật sư đến cùng.

Nghi can được coi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nên theo Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, họ có quyền được thông báo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; được thông báo giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình; được trình bày ý kiến, lời khai; đưa ra chứng cứ và trình bày ý kiến về tài liệu đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền đánh giá; tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; được thông báo kết quả giải quyết tố giác; được khiếu nại quyết định hành vi tố tụng cơ quan hoặc người có thẩm quyền. Nghĩa vụ của nghi can là phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác và kiến nghị.

nghi can

Trên đây là toàn bộ câu trả lời giải thích nghi can là gì và những vấn đề liên quan. Hy vọng bài viết đã trang bị những kiến thức bổ ích phục vụ cho công việc và những hoạt động pháp lý trong đời sống hàng ngày của bạn.

Tác giả : Nguyễn Minh Ngọc